Tin tức

Bệnh ung thư máu là gì?

13/07/2017 04:07:15

Bệnh ung thư máu là trong đó tủy và hệ bạch huyết bị rối loạn và tạo ra những bạch cầu ác tính. Chúng tăng sinh ngoài tầm kiểm soát và nhu cầu của cơ thể, lấn át các tế bào khác trong máu khiến cho máu không hoàn thành được các nhiệm vụ thường lệ.

Bạch cầu là một trong ba loại tế bào của máu: hồng cầu, bạch cầu và tiểu bào. Hồng cầu chứa huyết cầu tố, mang dưỡng khí nuôi các cơ quan bộ phận.

Bạch cầu có nhiệm vụ chống lại các chất lạ như vi sinh vật, hóa chất xâm nhập cơ thể và tạo ra kháng thể. Tiểu cầu giúp máu đóng cục, tránh xuất huyết ở vết thương.

Tế bào máu được tạo ra từ các tế bào gốc đa hiệu (pluripotent stem cells) ở tủy xương.

Nơi đây, tế bào máu lớn lên cho đến khi trưởng thành thì chuyển sang dòng máu.

Phần dung dịch lỏng của máu là huyết tương, có các hóa chất hòa tan như đạm, tùy theo tốc độ tiến triển tình trạng nặng nhẹ của bệnh.

Trường hợp cấp tính, xuất hiện nhiều tế bào máu chưa trưởng thành và vô dụng ở tủy xương và máu.

Bệnh nhân bị thiếu máu vì hồng cầu thấp; dễ xuất huyết vì thiếu tiểu cầu; dễ mắc bệnh nhiễm vì khả năng tự vệ giảm.

Do đó bệnh trở nên trầm trọng rất nhanh. Trong mãn tính, dấu hiệu xảy ra hormone, khoáng, vitamins, kháng thể.

Bệnh ung thư máu (bệnh máu trắng) có cả ở súc vật như mèo, heo, trâu bò và dĩ nhiên ở người.

Với người, bệnh xuất hiện ở bất cứ tuổi nào. Nam giới bị ung thư máu (bệnh máu trắng) nhiều hơn nữ giới.

Ung thư máu có thể là mạn tính hoặc cấp tính, chậm hơn, bệnh nhân có đủ thời gian tạo ra tế bào máu trưởng thành nhưng có thể chuyển sang tình trạng cấp tính.

Ung thư máu (bệnh máu trắng) mãn tính nhiều hơn cấp tính và thường thấy ở người ngoài 67 tuổi. Trẻ em dưới 19 tuổi thường hay bị ung thư máu (bệnh máu trắng) cấp tính lympho bào.

Ung thư cũng được chia loại tùy theo bạch cầu ác tính được tạo ra từ hệ bạch huyết hoặc từ tủy xương.

Nguyên nhân đích thực của bệnh chưa được biết rõ, nhưng một số rủi ro có thể gây ra bệnh.

arrow   Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ, như trường hợp các nạn nhân bom nguyên tử ở Nhật vào cuối Thế Chiến II, vụ tai nạn nổ lò nguyên tử Chernobyl (Ukraine) năm 1986 hoặc ở bệnh nhân tiếp nhận xạ trị.

arrow   Bệnh nhân ung thư được điều trị bằng dược phẩm.

arrow   Làm việc trong môi trường có nhiều hóa chất như benzene, formaldehyde.

arrow   Một số bệnh do thay đổi gene như hội chứng Down, do virus hoặc vài bệnh về máu.

ung thư máu 1

Triệu chứng của bệnh ung thư máu (bệnh máu trắng

Triệu chứng của bệnh ung thư máu (bệnh máu trắng) thay đổi tùy theo số lượng bạch cầu trong máu và tùy theo nơi mà các bạch cầu ác tính tụ tập.

Các dấu hiệu này cũng không tiêu biểu cho ung thư máu (bệnh máu trắng). Sau đây là các dấu hiệu thường thấy:

arrow   Sốt, đau đầu, đau khớp do sự chèn ép trong tủy

arrow   Sốt, rét run, và triệu chứng giống như cảm cúm.

arrow   Mệt mỏi, yếu sức, da đổi thành màu trắng nhợt do thiếu hồng cầu

arrow   Hay bị nhiễm trùng do bạch cầu không thực hiện được chức năng chống nhiễm khuẩn

arrow   Chảy máu chân/nướu răng do giảm khả năng làm đông máu

arrow   Dễ bầm tím và dễ chảy máu.
Biếng ăn, sút cân.

arrow   Ra mồ hôi về ban đêm ở bệnh nhân là nữ

arrow   Sưng nề bụng hoặc cảm giác khó chịu ở bụng.

arrow   Đau khớp và xương.

Nếu không được điều trị, ung thư máu cấp tính đưa tới tử vong rất mau. Ung thư mạn tính có thể không có dấu hiệu, khó chẩn đoán, dễ tử vong vì bội nhiễm các loại vi khuẩn. Đôi khi bệnh được khám phá tình cờ trong khi khám sức khỏe tổng quát.

Để xác định bệnh, bác sĩ sẽ thực hiện các bước như sau:

arrow   Khám tổng quát cơ thể, tìm coi gan, lách, hạch có sưng;

arrow   Thử nghiệm đếm số tế bào máu và số lượng huyết cầu tố, các chức năng của gan, thận;

arrow   Xét nghiệm tế bào tủy xương và nước tủy,

arrow   Chụp hình X-quang cơ thể.

ung thư máu

Các phương pháp trị liệu ungg thu máu gồm có:

a. Hóa trị (Chemotherapy)

Hóa trị dùng các dược phẩm khác nhau bằng cách uống, chích vào tĩnh mạch hoặc vào tủy xương để tiêu diệt tế bào ung thư.

Hóa trị rất công hiệu và được áp dụng cho đa số bệnh nhân. Có nhiều loại thuốc và người bệnh có thể chỉ uống một thứ hoặc phối hợp hai ba thuốc.

Tuy nhiên, hóa trị cũng ảnh hưởng tới các tế bào bình thường và gây ra một số tác dụng phụ như rụng tóc, lở môi miệng, nôn mửa, tiêu chẩy, ăn mất ngon, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn sinh sản.

b. Xạ trị (Radiation therapy)

Với một máy phát xạ lớn, các tia phóng xạ được đưa vào các bộ phận có nhiều bạch cầu ung thư tụ tập, như lá lách, não bộ để tiêu diệt chúng. Tác dụng phụ gồm có: mệt mỏi, viêm đau nơi da nhận tia xạ.

c. Sinh trị liệu (Biological Therapy)

Còn gọi là miễn dịch trị liệu, sinh trị liệu sử dụng kháng thể để hủy hoại tế bào ung thư.

Kháng thể là những chất đạm đặc biệt được cơ thể sản xuất khi có một vật lạ xâm nhập.

Kháng thể này sẽ phát hiện và tiêu diệt các vật lạ đó khi chúng trở lại cơ thể. Sinh trị liệu được thực hiện qua hai phương thức:

arrow   Gây miễn dịch để kích thích, huấn luyện hệ miễn dịch nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư

arrow   Cho bệnh nhân dùng các kháng thể đặc biệt được sản xuất trong phòng thí nghiệm để trị ung thư.

d. Ghép tế bào gốc (Stem Cell Transplant)

Ghép tủy là lấy tủy xương (thường là ở xương hông) có tế bào gốc của một người cho khỏe mạnh rồi đưa vào người bệnh với mục đích tái tạo tế bào máu và hệ thống miễn dịch.

Tế bào gốc từ máu, cuống rốn thai nhi và nhau thai cũng được dùng để điều trị một vài loại ung thư máu.

Trong bệnh ung thư máu (bệnh máu trắng), tế bào gốc của tủy bị lỗi, sản xuất ra quá nhiều bạch cầu non yếu nhưng ác tính, gây trở ngại cho sự tăng sinh của tế bào bình thường ở máu.

Ghép tủy không hoàn toàn bảo đảm tránh được sự tái phát của ung thư nhưng có thể tăng khả năng trị bệnh và kéo dài đời sống người bệnh.

Untitled-3
Untitled-4